Phân tích hai khổ thơ cuối bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy

Bao trùm toàn bộ bài thơ “Ánh trăng” của nhà thơ Nguyễn Duy là một nỗi day dứt, ân hận cứ day dứt mãi. Ngay nhan đề bài thơ cũng đủ cho ta thấy chủ đề của toàn bài thơ. Bởi vì, khác với “trăng” là hình ảnh cụ thể, “ánh trăng” là những tia sáng. Tia sáng ấy đã rọi vào góc tối của con người, đánh thức lương tâm con người, soi sáng một quá khứ đầy ắp những kỷ niệm đẹp đẽ và đáng trân trọng.

Khổ thơ thứ năm là hình ảnh vầng trăng và cảm xúc, suy nghĩ của nhà thơ. Còn khổ thơ thứ sáu là những suy tư, triết lí của nhà thơ về cuộc đời qua hình ảnh vầng trăng:

Hội sách FAHASA

Miệng lên và nhìn vào khuôn mặt của bạn
một cái gì đó đầy nước mắt
như đồng là một chiếc xe tăng
như một dòng sông là một khu rừng

Hội sách FAHASA

Từ “mặt” trong khổ thơ được dùng với nghĩa gốc và nghĩa dịch: trăng, mặt người, trăng và người đối diện nói chuyện với nhau. Với tư thế “ngửa mặt” người đọc cảm nhận được sự im lặng, trân trọng và trong phút chốc, cảm xúc vỡ òa khi gặp lại vầng trăng: “có gì rưng rưng”. Giọt nước mắt của nỗi nhớ nhung, của sự lãng quên lạnh lùng với người bạn cũ; của một ý thức bừng tỉnh sau bao ngày đắm chìm trong cõi mộng; những giọt nước mắt hối hận về hành vi của chính mình trong quá khứ. Một chút áy náy, một chút ân hận, một chút chạnh lòng, tất cả làm nên “những giọt nước mắt”, những thổn thức sâu thẳm trong lòng người lính.

Và khoảnh khắc nhân vật trữ tình nhìn thẳng vào vầng trăng, biểu tượng đẹp đẽ của một thời đã xa, nhìn thẳng vào tâm hồn mình, bao kỉ niệm chợt dồn về chiếm lấy tâm trí. Những ký ức về một thời thơ ấu trong sáng, về chiến tranh đẫm máu, về những ngày xưa tươi đẹp cứ hiện dần lên trong dòng cảm xúc “ruộng là ao, sông là rừng”. Cánh đồng, ao hồ, dòng sông, rừng cây, những hình ảnh gắn liền với không gian kí ức.

Cấu trúc song hành của hai câu thơ, nhịp điệu dồn dập và phép tu từ so sánh, điệp ngữ, liệt kê dường như đã khắc họa rõ nhất nỗi nhớ về một thời hòa mình với thiên nhiên, với vầng trăng tuyệt vời. sâu sắc, tình cảm, ba chiều. . Chính ánh trăng giản dị, nhân hậu ấy đã gợi mở bao kỉ niệm ấp ủ, đánh thức bao cảm xúc tưởng như đã ngủ yên trong góc tối tâm hồn người lính. Lời thơ giản dị, chân chất như vầng trăng êm dịu, ngôn ngữ diễn đạt, giàu sức biểu cảm như “có cái gì mà rơi lệ”, bài thơ đã lay động được cảm xúc của người đọc.

Tham Khảo Thêm:  Hệ thống câu hỏi ôn tập Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật - có đáp án gợi ý

Nhà thơ bình thản đối diện với vầng trăng trong tư thế tĩnh lặng, có phần trân trọng: “Ngẩng mặt trông mặt em”. Từ “mặt” ở cuối câu thơ là từ nhiều nghĩa, tạo nên sự đa dạng về nghĩa. Nhà thơ đối diện với trăng, người bạn tri kỷ bị lãng quên của mình, trăng đối diện với nhân dân hay nói cách khác là trăng. Quá khứ đối đầu với hiện tại, lòng chung thủy. và tình bạn vô tình đối mặt với sự phản bội và vô tình thú nhận sự không chung thủy của họ.

Khi đối mặt với mặt trăng, có một cái gì đó khiến người lính cảm thấy khó chịu mặc dù anh ta không bị khiển trách. Hai chữ “khuôn mặt” gần giống nhau: mặt trăng và mặt người cùng nói. Người lính cảm thấy có gì đó “ứa nước mắt” từ tận đáy lòng và dường như những giọt nước mắt ấy chực trào ra vì xúc động trước sự hy sinh quên mình của người bạn “tri kỉ”. Đối diện với vầng trăng, người lính bỗng có cảm giác như đang xem một thước phim quay chậm về tuổi thơ của mình, nơi có “sông” và “bể”.

Chính thước phim quay chậm đã làm người lính choáng ngợp, nhưng cảm xúc và nước mắt cứ tuôn trào một cách tự nhiên, không chút gượng ép! Những giọt nước mắt ấy đã làm cho người lính bình tĩnh hơn, tâm hồn trong sáng hơn. Một lần nữa những hình ảnh về thời thơ ấu và chiến tranh được diễn ra để làm rõ những gì mọi người cảm thấy. Tâm hồn ấy, vẻ đẹp mộc mạc ấy không bao giờ mất đi, luôn sống lặng lẽ trong tâm hồn mỗi người và sẽ lên tiếng khi người ta bị tổn thương. Bài thơ hay bởi lời thơ mộc mạc chân tình, ngôn ngữ giản dị mà sâu lắng, hình ảnh đi vào lòng người.

Tư tưởng, triết lí của nhà thơ được thể hiện qua hình ảnh vầng trăng ở khổ thơ cuối

Mặt trăng tròn và tròn

kể cho tôi nghe về một người ngẫu nhiên

ánh trăng im lặng

đủ làm tôi ngạc nhiên

Hình ảnh “vầng trăng luôn tròn vành vạnh” là quá khứ biểu tượng cho tình yêu thủy chung, thủy chung, bao dung, nhân hậu. Rồi đến hình ảnh “ánh trăng im phăng phắc” mang ý nghĩa nhắc nhở nghiêm khắc, lời quở trách thầm lặng. Chính sự im lặng của vầng trăng đã đánh thức lòng người và làm xao động tâm hồn của những người lính năm xưa. Con người bị ánh trăng “thổi bay” là sự thức tỉnh của nhân cách, sự trở lại với ý thức trong sạch, tốt đẹp. Đó là một từ tiếc nuối, hối hận và đẹp đẽ.

Tham Khảo Thêm:  Bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương

Trong cuộc gặp gỡ không lời này, trăng và người như có sự đối lập. Trăng đã trở thành biểu tượng của sự bất biến, vĩnh cửu và không thể thay đổi. “Vầng trăng nào cũng tròn vành vạnh” tượng trưng cho sự tròn đầy, thủy chung của thiên nhiên, quá khứ dẫu con người có đổi thay “vô tình”.

Ánh trăng cũng được nhân cách hóa “im lặng” không một lời trách móc, gợi lại ánh mắt nghiêm khắc, bao dung và hào hùng của người bạn thủy chung, tri ân, nhắc nhở nhà thơ và mỗi chúng ta: Con người có thể vô tình quên lãng, nhưng tình nghĩa xưa thì luôn còn. đầy bất tử.

Tình yêu của trăng, trái tim của trăng là tình đồng chí, đồng đội, đồng hương, đồng bào. Khoảng lặng ấy làm cho nhà thơ “nhảy” tỉnh, “bước nhảy” ý thức của nhà thơ thật đáng trân trọng, nó thể hiện những trăn trở, trăn trở và đấu tranh với chính mình để sống tốt hơn. Sợ không rơi vào quên lãng. Đáng ngạc nhiên là không đánh mất quá khứ. Con người sợ hãi trước ánh sáng tĩnh lặng đó là sự đánh thức con người một con đường trở về với tâm thức trong sạch và tốt đẹp.

Dòng cuối bài thơ chất chứa nhiều tâm sự và những lời tiếc nuối, tuy không bày tỏ nhưng cũng chính vì thế mà lòng họ càng thêm xao động, day dứt. Bằng cách này, Nguyễn Duy muốn gửi đến mọi người một lời nhắc nhở về chân lý của cuộc sống, đạo đức và lòng trung thành.

Trong cuộc gặp gỡ không lời này, trăng và người như có sự đối lập. Vầng trăng – hình ảnh của thiên nhiên, trong nhận thức của con người, giờ đây theo quy luật tuần hoàn của nó, vẫn tỏa sáng, vẫn “tròn vành vạnh” dù “con người vô tình”. Xuyên suốt bài thơ, vầng trăng luôn được miêu tả trong câu thơ gắn với các thuật ngữ (“cảm giác”, “tròn”), cho đến khổ thơ cuối kết tinh trong hình ảnh “tròn vành vạnh”, đó là sự thủy chung, nghĩa tình. . Giá trị tốt đẹp của quá khứ vẫn còn nguyên giá trị. Sự im lặng của trăng, ánh trăng dịu mát không phải động mà khiến người ta nghĩ đến mình.

Con người dường như có sự ân hận, nuối tiếc vì đã từng “vô tình”, vô tình với trăng, cũng như vô tình với cuộc đời, với những người và vật quen thuộc, với quá khứ, với hiện tại. Sự “im hơi lặng tiếng”, sự im lặng đầy ý nghĩa, không một lời trách móc nhưng cùng với sự khắc nghiệt của vầng trăng đã đánh thức lòng người và làm xao động tâm hồn người lính già. Con người bị ánh trăng êm đềm “thổi bay” là sự thức tỉnh của nhân cách, trở về với ý thức trong sạch, tốt đẹp. Đó là sự sám hối của con người, là sự thức tỉnh tâm hồn, là vẻ đẹp của con người. “Cú nhảy” chứa đựng biết bao niềm tin, tình yêu và hy vọng. Sự khuấy động lặng lẽ ấy như mạch nước ngầm tuôn trào sẽ xua tan bao lỗi lầm để vững tay xây dựng cuộc đời tươi đẹp.

Tham Khảo Thêm:  Soạn bài Sơn Tinh Thuỷ Tinh | 5 phút soạn bài Ngữ văn 6

Giọng thơ từ cảm xúc chân thành đến suy ngẫm trầm lắng. Không phải ngẫu nhiên mà trong bài tác giả đã nhiều lần nhắc đến “vầng trăng”, và ở đây tác giả lại nhắc đến Ánh trăng và nhan đề của bài thơ cũng là Ánh trăng. “Trăng tròn” chỉ sự thủy chung, tình cảm vẹn nguyên còn “ánh trăng” chỉ vầng hào quang của quá khứ, ánh sáng của ý thức, của đạo đức, là ánh sáng soi rọi, đánh thức, xua tan bóng tối tâm hồn. .

Hình ảnh thơ ở đây gợi chiều sâu tư tưởng triết lí: trăng không chỉ là hiện thân cho vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn là biểu tượng của tình yêu đã qua, hơn nữa, trăng còn là một vẻ đẹp bình dị nhưng vĩnh hằng, sự trường tồn của sự sống. Vầng trăng luôn tròn vành vạnh, bình lặng cho dù con người có “vô tình” đến đâu, nó là biểu tượng của lòng bao dung, độ lượng, thủy chung, vẹn toàn, trong sáng, vô tư, không đòi hỏi đền đáp. Đó là phẩm chất cao quý của con người mà Nguyễn Duy cũng như nhiều nhà thơ cùng thời đã phát hiện và cảm nhận sâu sắc trong thơ ca từ thời chống Mỹ cứu nước.

Trăng tròn tượng trưng cho quá khứ đẹp đẽ, nguyên vẹn và không thể xóa nhòa. “Ánh trăng thinh lặng” là người bạn, là nhân chứng thân thương nhưng cũng là lời nhắc nhở nghiêm khắc đối với nhà thơ (và đối với mỗi chúng ta). Con người có thể cẩu thả, đãng trí nhưng thiên nhiên và tình cảm quá khứ thì luôn đong đầy và trường tồn. Vì vậy, Moonlight không chỉ là câu chuyện của một người, một thế hệ – thế hệ đã sống anh dũng qua một thời đấu tranh chống kẻ thù – mà nó có ý nghĩa đối với nhiều người, ở mọi thời đại. Nó có ý nghĩa thức tỉnh, nhắc nhở con người sống có ý nghĩa, sống đẹp, xứng đáng với những người đã khuất, xứng đáng với chính mình, biết yêu quý quá khứ để vững bước vào tương lai. Bài thơ nói về trăng nhưng là chuyện đời, từ cội nguồn đạo lí truyền thống của dân tộc: trung nghĩa, nghĩa tình, uống nước nhớ nguồn, ca từ xúc động, cảm động, bởi trước hết nó là sự tự biểu đạt. anh nhắc lại bằng một giọng điềm tĩnh nhưng sâu lắng.

Related Posts

Bài thơ Sóng (Xuân Quỳnh)

Bài thơ: Ona – Nhà thơ Xuân Quỳnh Ngâm thơ: Minh Ngọc | Hát đệm: Thanh Hương Mãnh liệt và mềm mạiỒn ào và yên tĩnhDòng sông…

Luyện thi vào lớp 10 môn Ngữ Văn

“Chỉ còn 15 ngày: Học gì và làm thế nào để tăng tốc về đích và đạt điểm cao trong kỳ thi tuyển sinh lớp 10?” Chắc…

So sánh hai nhân vật: Phùng – Chiếc thuyền ngoài xa và Vũ Như Tô

Vài nét về nét nghệ thuật của hai nhân vật: Phùng – Chiếc thuyền ngoài xa và Vũ Như Tô – Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài –…

Tuyển sinh vào lớp 10 môn Ngữ văn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018 Đề thi và đáp án

Les preguntes i respostes de l’examen fan referència a l’examen d’accés al 10è grau de Literatura de la Ciutat Ho Chi Minh el curs 2018 – 2019….

Phân biệt các biện pháp tu từ luyện thi vào lớp 10

TT biện pháp tu từ Khái niệm và tác dụng Kiến thức cơ bản Đầu tiên so sánh So sánh là so sánh sự vật, sự việc…

Tổng ôn kiến thức bài thơ Đồng chí của nhà thơ Chính Hũu

Bài thơ Đồng chí được nhà thơ Chính Hữu viết vào đầu năm 1948. Tác phẩm thể hiện vẻ đẹp bình dị mà cao cả của anh…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *