Phân tích nhân vật Tnú trong “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành

Mỗi nhà văn thường có một “mảnh đất” riêng, nếu Nguyễn Thi là nhà văn của làng quê Nam bộ thì Lê Minh Khuê là nhà văn của những chàng trai, cô gái từ tuyến đường Trường Sơn; Nguyễn Trung Thành, người đất Tây Nguyên, vì được coi là nhà văn quân sự, gắn bó mật thiết với chiến trường Tây Nguyên nên từng được phong quân hàm đại tá trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ông đã đóng góp cho nền văn học Việt Nam nhiều tác phẩm về đề tài này, đặc biệt là những hình tượng con người chất phác nơi núi rừng Tây Nguyên. Một trong những điểm sáng trong tác phẩm của Nguyễn Trung Thành là truyện ngắn “Rừng xà nu”, là câu chuyện kể về dân làng Xô Man trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong những con người làng Xô Man hào hoa, bất khuất, nổi bật lên là hình ảnh Tnú. Câu chuyện về cuộc đời ông đã được tái hiện chi tiết qua lời kể của ông già bên bếp lửa bên chuồng đại bàng: không gian và thời gian đậm chất sử thi.

Nguyễn Trung Thành - Nguyên Ngọc
Nguyễn Trung Thành – Nguyên Ngọc

Hình ảnh Tnú trước và sau khi đứng cầm vũ khí càng làm nổi bật lòng yêu nước nồng nàn của những người con miền Trung. Trước khi cầm vũ khí, ngay từ nhỏ Tnú đã là một cậu bé gan dạ, dũng cảm, thể hiện tính cách táo bạo, mạnh mẽ. Anh thay anh cả làm liên lạc, nuôi cán bộ, thoăn thoắt băng rừng thoát thân, dũng cảm vượt lũ vì biết Mỹ ngụy ít nằm chờ nước chảy. Người đọc cảm nhận được ở Tnú một điều gì đó chân thật không nơi nào có được sự quan tâm học chữ của Bác Hồ.

Đứa trẻ này dám tự đập đá vào đầu mình vì học một từ không sáng tạo như Mai. Và đặc biệt là sự dũng cảm của Tnú khi bị giặc bắt, người thanh niên này đã nuốt bức thư vào bụng và chỉ vào bụng nói: “Cộng sản đây”. Mặc cho những nhát dao cứa vào lưng Tnú, Tnú vẫn không khai báo, vẫn dũng cảm, kiên cường. Đối mặt với những đòn tra tấn dã man của kẻ thù, Tnú may mắn được học chữ và được giác ngộ cách mạng từ rất sớm.

Tham Khảo Thêm:  Phân tích khổ thơ thứ hai bài Sang thu của Hữu Thỉnh

Sau khi vượt ngục Kon Tum, Tnú là một cậu bé mạnh mẽ, hiểu biết, đã tôi luyện qua nhiều thử thách. Giờ đây Tnú như một thân cây trưởng thành, vạm vỡ, tràn đầy sức sống và yêu ánh sáng. Theo lời dặn của anh Quyết, Tnu thay anh làm cán bộ dẫn thanh niên trong làng cuốc bộ lên núi Ngọc Linh 3 ngày, nhưng không lấy đá trát mà mài giáo chuẩn bị cho việc nâng xác.

Không chỉ thấy rõ con đường phía trước, Tnú còn có cuộc sống hạnh phúc bên tình yêu của Mai, bên đứa con trai mới sinh. Nhưng thời gian hạnh phúc ấy ngắn chẳng tày gang, giặc rút súng rút, nhân dân chưa kịp thu súng. Tnú và những thanh niên trong làng phải trốn vào rừng, rồi một mình Tnú lao ra bảo vệ hai mẹ con Mai khỏi đòn roi của kẻ thù nhưng cả hai đều không sống được và Tnú bị mắc kẹt trong ngôi nhà của đại bàng. Quang cảnh cái chết đau thương đêm ấy cứ ùa về trong câu chuyện của già làng và những ký ức đau buồn.

Không những không cứu được vợ con, Tnú còn bị giặc đốt mười đầu ngón tay: “Mỗi ngón tay chỉ có hai khớp… không mọc lại được”. Nỗi đau này là minh chứng hùng hồn cho câu nói giản dị mà sâu sắc của bà Mết “Chúng nó đã mang súng, mình phải mang giáo”, là cơ sở để những người dân Tây Nguyên yêu nước vùng lên.

Đặc biệt hình ảnh Tnú sau khi cầm vũ khí chiến đấu thật cao đẹp và to lớn. Hình ảnh Tnú hiện lên như những người anh hùng của bất kỳ thời đại nào trong các khanh, trong các sử thi Tây Nguyên… Với việc đốt hai bàn tay của Tnú, kẻ thù muốn dập tắt ý chí kháng chiến, tiêu diệt ý chí chiến đấu của nhân dân. Soo Man. Họ muốn thị trấn. ở đây để sống mãi mãi trong cảnh nô lệ hèn hạ dưới gươm và súng tàn bạo của chúng.

Tham Khảo Thêm:  Tổng ôn kiến thức tác phẩm Vội vàng của nhà thơ Xuân Diệu

Nhưng Tnú và nhân dân làng Xô Man không chịu khuất phục mà ngược lại còn phản kháng quyết liệt. Họ đã biết vượt qua nỗi đau để đứng dậy cầm vũ khí tự giải thoát cho mình. Lửa đốt mười đầu ngón tay của Tnu, lửa đốt mười đầu ngón tay tẩm nhựa cây trần. Nhưng Tnú không thấy đau, trong lòng anh chỉ thấy ngọn lửa hừng hực, ngọn lửa chiến đấu sẽ thiêu rụi quân thù. Và một tiếng kêu oán hận vang vọng khắp núi rừng Soman, dường như khơi dậy lòng căm thù của toàn dân. Xác mười tên địch nằm la liệt dưới đất. Đêm đó ngọn lửa bùng cháy trong lò sưởi của chim ưng.

Tại đây, nhà văn Nguyễn Trung Thành đã miêu tả đêm khuấy động ấy thật hào hùng và sôi động: “Tiếng cồng chiêng nổi lên, đứng trên ngọn đồi gần con nước lớn suốt đêm nghe cả khu rừng Sôman rung rung và lửa cháy khắp rừng. Đêm khởi nghĩa ấy không chỉ của dân làng Sơman mà là sự trưởng thành phi thường của cả một cộng đồng, dân tộc, dường như đêm ấy chúng ta sẽ được sống lại không khí thiêng liêng, hào hùng của những bản anh hùng ca của vùng đất miền Trung Trung Bộ.

Một điều không thể thiếu khi nhắc đến cuộc đời Tnú là hình ảnh hai bàn tay của anh. Đôi bàn tay bỏng cháy của Tnú đã thổi bùng lên ngọn lửa căm thù giặc sâu sắc trong con người Sôman và chính nó cũng thắp lên cả cuộc đời anh. Thay mặt người dân làng Soman, anh đồng hành cùng quân kháng chiến để tìm kiếm những công tước khác. Bởi không phải ngẫu nhiên mà tác giả để cho Tnú sau này giải thích với dân làng về cuộc đối đầu với kẻ thù của mình: “Anh nói: này, tôi có súng, tôi có dao găm, nhưng tôi không giết anh bằng súng, tôi Tôi không đâm dao vào người, được không Duke. Tôi sẽ giết anh bằng mười ngón tay bị cụt này, tôi sẽ bóp cổ anh.” Nhà văn đã cố tình làm nổi bật hình ảnh đôi bàn tay của Tnú, đôi bàn tay mang một lịch sử và một số phận.

Tham Khảo Thêm:  Tải về SGK Toán lớp 6 Tập 1 | Bộ sách Cánh Diều

Về hình ảnh đôi bàn tay của Tnu: Thuở nhỏ, đôi bàn tay ấy kiên trì học từng nét chữ của anh Quyết, cần mẫn làm việc trên đồng ruộng. Cái tay dám lấy đá đập vào đầu vì học bài, không được trong sáng như Mai. Và những bàn tay ấy đã dám chỉ vào bụng mình mà nói với giặc “cộng sản đây” để khẳng định lòng trung thành với cách mạng. Lớn lên, tình cảm đôi bàn tay nắm lấy tay người con gái anh yêu và cũng chính đôi tay ấy xé toạc chiếc chăn của em bé. Lửa đốt cháy mười đầu ngón tay rồi chỉ còn hai ngón không mọc lại… nên Tnú muốn dùng đôi bàn tay ấy để giết giặc.

Bao nhiêu uất hận, thù hận dồn hết vào tay kia, nó trở thành biểu tượng cho ý chí bất khuất, sức mạnh oanh liệt của Tnú và nhân dân làng Sôman. Những kẻ thù tàn ác có thể đốt cháy đôi bàn tay của họ, nhưng không thể tiêu diệt được sức mạnh phi thường, tiềm ẩn trong họ. Đó là ý chí chiến đấu và khát khao chiến thắng. Đó là một dân tộc anh dũng, kiên cường như những cánh rừng đại ngàn không bị thương nhưng vẫn xanh tươi xanh trải dài đến tận chân trời.

Xây dựng thành công nhân vật Tnú, nhà văn đã khắc họa một hình tượng tiêu biểu về con người có chất đạm trong máu, tính cách của núi rừng Tây Nguyên. Và qua hình tượng Tnú, Nguyễn Trung Thành cũng gợi lên số phận, phẩm chất của cả cộng đồng trong cuộc đấu tranh bảo vệ đồng bào thân yêu. Đó là tình cảm gắn bó sâu nặng với quê hương, với núi rừng Tây Nguyên, là lòng căm thù giặc sâu sắc, một lòng một dạ đi theo cách mạng, không quản ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh, thủy chung. . Có thể nói, qua truyện ngắn xuất sắc này của Nguyễn Trung Thành, người đọc càng thêm hiểu và trân trọng những con người Tây Nguyên với biết bao phẩm chất cao đẹp.

Related Posts

Bài thơ Sóng (Xuân Quỳnh)

Bài thơ: Ona – Nhà thơ Xuân Quỳnh Ngâm thơ: Minh Ngọc | Hát đệm: Thanh Hương Mãnh liệt và mềm mạiỒn ào và yên tĩnhDòng sông…

Luyện thi vào lớp 10 môn Ngữ Văn

“Chỉ còn 15 ngày: Học gì và làm thế nào để tăng tốc về đích và đạt điểm cao trong kỳ thi tuyển sinh lớp 10?” Chắc…

So sánh hai nhân vật: Phùng – Chiếc thuyền ngoài xa và Vũ Như Tô

Vài nét về nét nghệ thuật của hai nhân vật: Phùng – Chiếc thuyền ngoài xa và Vũ Như Tô – Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài –…

Tuyển sinh vào lớp 10 môn Ngữ văn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018 Đề thi và đáp án

Les preguntes i respostes de l’examen fan referència a l’examen d’accés al 10è grau de Literatura de la Ciutat Ho Chi Minh el curs 2018 – 2019….

Phân biệt các biện pháp tu từ luyện thi vào lớp 10

TT biện pháp tu từ Khái niệm và tác dụng Kiến thức cơ bản Đầu tiên so sánh So sánh là so sánh sự vật, sự việc…

Tổng ôn kiến thức bài thơ Đồng chí của nhà thơ Chính Hũu

Bài thơ Đồng chí được nhà thơ Chính Hữu viết vào đầu năm 1948. Tác phẩm thể hiện vẻ đẹp bình dị mà cao cả của anh…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *